Vấn đề cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng cho luật sự

        Theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 điều 27 Luật luật sư năm 2006, Điều 39 Luật trợ giúp pháp lý 2006 đều khẳng định cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận quyền bào chữa, giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự hoặc giấy chứng nhận người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cho Luật sư trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính.

        Giấy chứng nhận tham gia tố tụng của Luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, Luật sư bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Quy định này là nhằm đảm bảo tạo điều kiện cho Luật sư tham gia tố tụng. Trong thực tế nhiều vụ án của Công ty, cơ quan tiến hành tố tụng không áp dụng đúng các quy định viện dẫn ở trên, vẫn buộc luật sư phải cung cấp lại các thủ tục xin cấp giấy chứng nhận bào chữa cho từng giai đoạn tố tụng, nếu không người luật sư sẽ mất tư cách tham gia tố tụng, không được nhận văn kiện tố tụng của vụ án.

        Lý do đưa ra của các cơ quan tiến hành tố tụng để biện giải cho hành vi tố tụng nêu trên đểu rất chung chung và  thiếu căn cứ pháp lý, đơn cử: làm để đúng thủ tục, tròn hồ sơ; giấy chứng nhận của chỉ có giá trị trong từng giai đoạn cụ thể của vụ án; đương sự, bị can bị cáo trong thư mời luật sư không nói rõ mời trong giai đoạn nào, nên không biết có đồng ý tiếp tục khi vụ án chuyển giai đoạn tố tụng không..v.v..Khi được hỏi căn cứ pháp luật nào biện giải cho các hành xử nêu trên thì đa phần các cơ quan tiến hành tố tụng đều không thể trả lời thấu đáo.

        Xét trên mặt bằng pháp luật, do tồn tại hướng dẫn tại tại mục 1 - Phần II - Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao, theo đó trường hợp trong các giai đoạn tố tụng trước đó, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ đã có nhờ người bào chữa và nay vẫn tiếp tục nhờ người đó bào chữa thì cần phải xem xét người đó có quan hệ thân thích với người nào (thẩm phán, hội thẩm, thư ký toà án) được phân công tiến hành tố tụng trong vụ án hay không. Nếu có quan hệ thân thích với người nào đó được phân công tiến hành tố tụng trong vụ án,thì cần phân công người khác không có quan hệ thân thích với người được nhờ bào chữa thay thế tiến hành tố tụng và cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người được nhờ bào chữa đó. Vì vậy, nhiều Toà án đã suy diễn giá trị giấy chứng nhận bào chữa hoặc bảo vệ của Luật sư không mặc nhiên có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, từ đó tự ý đặt ra thủ tục cấp lại giấy chứng nhận cho luật sư, gây cản trở rất lớn cho quá trình hành nghề, đặc biệt khi tham gia bào chữa cho bị cáo trong vụ án hình sự.

        Thiết nghĩ, việc hành nghề của luật sự là cơ chế bảo vệ cho quyền tự bào chữa của người công dân, được hiến định tại Điều 132, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Do vậy, Cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng ý kiến, nguyện vọng của đương sự, bị can bị cáo trong việc thuê nhờ luật sư bảo vệ hay bào chữa. Việc đặt ra thủ tục cấp giấy chứng nhận là hạn chế quyền bào chữa của Công dân, không đúng với bản chất của dân, do dân và vì dân của Nhà nước và pháp luật ta.

        Về thực tiễn tố tụng, việc quy định như vậy đã đặt luật sư vào một địa vị pháp lý luôn thấp hơn so với những người tiến hành tố tụng vì phải xuất trình những giấy tờ cần thiết chứng minh mình là luật sư được khách hàng yêu cầu, thì mới được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư.

        Nếu nhận thức vì lợi ích chung chứ không riêng gì lợi ích của khách hàng cụ thể thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ phối hợp với luật sư. Vì vậy luật cần phải xác định lại địa vị pháp lý của luật sư trong quan hệ với những người tiến hành tố tụng để cùng có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế.

        Thực tiễn hành nghề luật tại Công ty cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng điển hình là cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thường xuyên vi phạm việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư.

        Các lỗi vi phạm có thể kể đến như: Không bao giờ đúng thời hạn cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư là 03 ngày (theo quy định khoản 3 điều 27) chưa nói tới một số cá nhân các cơ quan tiến hành tố tụng còn đòi hỏi luật sư xuất trình thêm các giấy tờ ngoài quy định của Luật luật sư đó là xuất trình thêm chứng chỉ hành nghề luật sư, hợp đồng dịch vụ pháp lý của luật sư với khách hàng; phủ nhận giá trị Giấy chứng nhận bào chữa đã được cấp trước đó, gây ảnh trực tiếp khả năng bảo vệ thân chủ trước các hoạt động điều tra và khả năng tiếp cận hồ sơ tài liệu vụ án của người luật sư

        Tại sao lại có hiện tượng đó, phải chăng xuất phát từ tư duy là quyền lực đang nằm trong tay người tiến hành tố tụng, thì họ có thể cho, có thể cấp và có thể không cấp, hoặc như hạn chế tối thiểu thời gian tham gia vì lý do Luật sư hay “phá rối”.

        Thiết nghĩ cần thay đổi ý thức rằng việc phối hợp với luật sư là nghĩa vụ, là trách nhiệm của hoạt động tố tụng, là đòi hỏi vủa việc cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền cẩn phải nghiêm chỉnh tuân thủ.

        Quyền của luật sư tham gia vào các vụ án cần phải trở thành là một trong các yếu tố không thể thiếu được của các hoạt động tố tụng để đảm bảo về quyền lợi hợp pháp của công dân vì vậy cần phải loại bỏ tư duy xin cho cấp phép, cũng như cần phải xem xét vấn đề hủy bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa, bảo vệ cho Luật sư, chỉ cần yêu cầu Người Luật sư xuất trình thẻ luật sư và giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề về việc bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích cho khách hàng trong quá trình hành nghề, phụng sự cộng đồng xã hội.

Bài viết liên quan

Gửi câu hỏi tới Luật Tân Long