1 SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG NHẬN HÔN NHÂN THỰC TẾ

Hiện nay có quan điểm cho rằng nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 là hôn nhân thực tế, có quan điểm lại cho rằng ngoài việc sống chung, thì nam nữ phải đủ điều kiện kết hôn mới được công nhận là hôn nhân thực tế hợp pháp.

Thời gian vừa qua, Công ty Luật Tân Long đã thụ lý bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong vụ án có liên quan đến việc giải quyết quan hệ hôn nhân trên thực tế của khách hàng. Cụ thể:

Bà A là vợ hợp pháp của ông B, đến năm 2000 thì ly hôn. Bà C là người được cho là chung sống với ông B từ năm 1997 đến năm 2000 thì đăng ký kết hôn.

Quá trình chung sống như vợ chồng có sự chứng nhận của các anh chị em ruột của bà C. Đến năm 2012, ông B có yêu cầu ly hôn với bà C. Có quan điểm cho rằng bà C và ông B đã có qua hệ hôn nhân thực tế hợp pháp từ năm 1997, trước khi đăng ký năm 2000.

Như vậy phải xác định kỳ hôn nhân của ông B bà C từ năm 1997 cho đến năm 2000. Quan điểm này là đúng hay sai?

Theo Điều 3 Nghị quyết 35 quy định Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai nămkể từ ngày Luật hôn nhân năm 2000 có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003 khi có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Theo quy định của khoản 2 Thông Tư Liên Tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn chi tiết: Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn, Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Trường hợp họ thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, thì quan hệ của họ vẫn được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Như vậy, quy định của pháp luật luôn khẳng định hôn nhân thực tế chỉ được phép công nhận khi cả hai bên nam và nữ đều đủ điều kiện đăng ký kết hôn trong thời gian sống chung như vợ chồng trên thực tế.

Quay trở lại với vụ việc nêu trên, trong thời gian chung sống như vợ chồng trên thực tế với bà C, giữa ông B và bà A vẫn có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Việc ông B tiến hành sống chung như vợ chồng với bà C là vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng, không được công nhận là sống chung hợp pháp.

Mặt khác, nếu chỉ xét chỉ căn cứ trên việc chung sống rồi tiến tới được công nhận hôn nhân thực tế, thì sẽ rất khó xử đối với những trường hợp đặc biệt như những người cùng dòng máu về trực hệ như cha, con, anh em; cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; cha dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng; những người có họ trong phạm vi ba đời. Những trường hợp như thế không thể công nhận họ là vợ chồng được.

Ban Biên tập


Bài viết liên quan

Gửi câu hỏi tới Luật Tân Long